Gieo mầm trên sa mạc

Gieo mầm trên sa mạc

MASANOBU FUKUOKA (1913 – 2008) là một nông dân và triết gia người Nhật đến từ đảo Shikoku. Kỹ thuật làm nông tự nhiên của ông không cần đến máy móc hay nhiên liệu hóa thạch, không cần tới hóa chất, chẳng cần ủ phân, và rất ít phải làm cỏ. Trong những ruộng lúa của mình, ông Fukuoka đã không cày đất hay giữ nước lại suốt vụ – như cách người nông dân vẫn làm từ hàng thế kỷ ở châu Á và trên khắp thế giới. Ấy vậy mà ông Fukuoka vẫn thu được sản lượng ngang bằng hoặc hơn so với hầu hết các nông trại có năng suất cao ở Nhật. Phương pháp của ông không gây ô nhiễm, và sự màu mỡ trên những cánh đồng của ông được cải thiện cùng với mỗi mùa trồng trọt.

Kỹ thuật này thể hiện triết lý quay-trở-về-với-tự-nhiên của ông Fukuoka. Thông điệp của ông là thông điệp của tầm nhìn và của hy vọng. Nó chỉ ra con đường đi tới một tương lai tươi sáng cho nhân loại, một tương lai nơi mà con người, tự nhiên và vạn vật chung sống bình yên trong sự phong phú đa dạng.

Masanobu Fukuoka
Masanobu Fukuoka trên trang trại của mình

Cuốn đầu tiên trong số các cuốn sách được chuyển ngữ sang tiếng Anh của ông Fukuoka là cuốn Cuộc cách mạng một cọng rơm: Giới thiệu về làm nông tự nhiên do Nhà xuất bản Rodale phát hành năm 1978. Như phần tựa đề phụ gợi ý, cuốn sách này dành để giới thiệu thế giới quan và các phương pháp làm nông mà ông đã phát triển phù hợp với thế giới quan ấy. Trong cuốn sách, ông đã kể về hành trình làm nông, trình bày khái quát về triết lý và các kỹ thuật làm nông của mình. Ông cũng đã đưa ra quan điểm về những thứ như chế độ ăn, nền kinh tế, chính trị và con đường đáng buồn mà nhân loại đã chọn đi theo – bằng cách tách bản thân nó ra khỏi tự nhiên.

Trong cuốn sách chuyển ngữ sang tiếng Anh tiếp theo của mình, Cách thức làm nông tự nhiên (Nhà xuất bản Nhật Bản, 1985), ông Fukuoka đưa ra chi tiết về việc các kỹ thuật làm nông của mình đã tiến triển như thế nào qua nhiều năm. Cuốn sách này chủ yếu là về thực hành, và dù đã không có được lượng độc giả rộng khắp như cuốn Cuộc cách mạng một-cọng-rơm, nó vẫn rất đáng đọc, đặc biệt là với những ai quan tâm tới việc đưa những phương pháp làm nông tự nhiên của ông Fukuoka vào thực hành trên mảnh đất của chính mình.

Trong cuốn sách hiện tại, Gieo mầm trên sa mạc (Sowing Seeds in the Desert), ông Fukuoka trình bày triết lý của mình dưới dạng chi tiết và đưa ra kế hoạch sử dụng cách làm nông tự nhiên để tái lập thảm thực vật cho các sa mạc trên thế giới. Đây là công trình cuối cùng của ông, và xét về nhiều mặt, nó là công trình quan trọng nhất.

Tôi không chắc chắn mình mong chờ gì khi lần đầu tiên tới thăm nông trại của ông Fukuoka vào một ngày hè năm 1973, nhưng điều tôi tìm thấy vượt xa bất cứ những gì mà tôi có thể tưởng tượng được. Hồi đó tôi đã sống ở Nhật nhiều năm, làm việc trong các cộng đồng quay-về-với-đất- đai và làm các công việc nông nghiệp theo thời vụ khi có thể. Những câu chuyện người ta kể về ông Fukuoka mà tôi nghe được luôn kèm theo một sự kính trọng đối với những lời chỉ dạy về mặt tâm linh của ông, nhưng không một ai trong những người mà tôi chuyện trò cùng từng ở tại nông trại của ông hay đã học được bất kỳ kỹ thuật làm nông cụ thể nào của ông cả, vì thế tôi đã quyết định đi tới đó và tự mình xem lấy.

Lúa trên những cánh đồng của ông lùn hơn lúa của nhà hàng xóm, và có màu xanh thẫm gần như là màu ô-liu. Trên mỗi nhánh có nhiều hạt hơn, còn bề mặt của đất thì phủ kín cỏ ba lá và rơm. Côn trùng bay tứ tung; ruộng không ngập nước mà để khô ráo. Thật là tương phản hoàn toàn với những khu ruộng bên cạnh: ngăn nắp và thẳng thớm, những hàng lúa được trồng trong ruộng ngập, chẳng hề thấy bất kỳ loại cỏ hay côn trùng nào. Ông Fukuoka tới chào tôi và hỏi, liệu tôi đã từng bao giờ thấy ruộng lúa nào như của ông ấy chưa. Tôi bảo với ông là chưa. Ông nói, “Lý do mà những cây lúa và cánh đồng trông như thế này là bởi vì đất đã không bị cày xới trên hai mươi lăm năm rồi”.

Tôi đã từng nghe được rằng ông Fukuoka hoan nghênh các học viên tới sống và làm việc trên nông trại, vì thế tôi hỏi ông liệu tôi có thể ở lại một thời gian không. Ông nói, “Tất nhiên rồi, nếu anh sẵn lòng làm việc và học hỏi một cái gì đó hơi khác lạ. Cứ đi theo con đường dẫn lên trên vườn kia, sẽ có người đưa anh đi thăm thú”. Tôi đi theo con đường ngoằn ngoèo lên tới khu vườn trên đồi trông xuống những cánh đồng lúa bên dưới, và sửng sốt bởi những gì trông thấy ở trên đó. Có đủ các loại cây với đủ loại kích cỡ, những cây bụi, cây leo, cây rau mọc ở khoảng trống giữa những cây lớn, còn lũ gà thì chạy khắp mọi nơi. Anh Hi-de, một trong những học viên ở đây, đã đón và chỉ tôi tới căn chòi quê mùa mà tôi sẽ sống cùng với hai người khác nữa. Tôi đã dành hai năm sau đó sống trong khu vườn thiên đường này để học các kỹ thuật làm nông tự nhiên của ông Fukuoka và cái triết lý mà từ đó những kỹ thuật này nảy sinh.

Vào thời điểm tôi tới sống và làm việc ở nông trại của ông Fukuoka, ông đã thực hành việc làm nông tự nhiên nhiều năm rồi. Câu chuyện về việc ông đã đi đến cách làm nông kiểu đấy như thế nào vừa thú vị vừa là một bài học.

Masanobu Fukuoka lớn lên ở một ngôi làng nhỏ trên đảo Shikoku, nơi gia tộc của ông đã sinh sống hàng trăm năm. Hồi nhỏ ông làm lụng trên ruộng lúa và vườn cam của nông trại gia đình. Ông Fukuoka đã theo học trường Cao đẳng Nông nghiệp Gifu gần Nagoya, ở đó ông nghiên cứu về bệnh học cây trồng dưới sự truyền dạy của nhà khoa học Makato Hiura lỗi lạc, và cuối cùng thì nhận việc tại Văn phòng Hải quan Nông nghiệp ở Yokohama. Nhiệm vụ chính yếu của ông là thẩm duyệt những cây trồng được nhập vào Nhật Bản xem có bệnh hay mang theo côn trùng gì không. Vào những lúc không kiểm tra cây, ông dành thời giờ để làm nghiên cứu, và như sau này nhớ lại, ông “đã thấy rất sửng sốt trước thế giới của tự nhiên được hiển lộ qua kính hiển vi”.

Sau ba năm làm việc tại đó, ông phát bệnh viêm phổi và suýt chết. Ngay cả sau khi đã hồi phục, ông vẫn bỏ ra hàng giờ liền đi lang thang trên những triền đồi suy ngẫm về ý nghĩa của sự sống và cái chết. Sau một trong những đêm đơn độc, đi lang thang suốt cả đêm như thế, ông ngã quỵ xuống gần một cái cây trên đỉnh con dốc nhìn xuống bến tàu. Ông tỉnh giấc khi nghe thấy tiếng kêu của một con diệc, và đã có một mặc khải làm thay đổi cuộc đời ông mãi mãi. Theo như cách ông miêu tả, “Chỉ trong một khoảnh khắc, toàn bộ những nghi ngờ và cơn mù mịt ảm đạm của tôi đã tiêu biến. Mọi điều mà tôi đã từng tin chắc, mà tôi vẫn thường dựa vào đã bị quét đi cùng với gió… Tôi cảm thấy đây đích thực là thiên đường trên trái đất, và cái gì đấy có thể gọi là ‘bản lai diện mục’1 đã hiển lộ”.

Ông đã thấy rằng tự nhiên đang ở trạng thái cân bằng và phong phú một cách hoàn hảo y như nó là. Con người, với hiểu biết hạn hẹp của mình, cố cải tiến tự nhiên, nghĩ rằng kết quả đạt được sẽ tốt hơn cho loài người, nhưng những hiệu ứng phụ bất lợi không thể tránh được cũng sẽ xuất hiện. Rồi người ta lại đưa ra những phương sách để kháng lại những tác dụng phụ này, và thế là những hiệu ứng phụ lớn hơn lại nảy sinh. Cho đến giờ, hầu hết mọi sự mà loài người đang làm thì chỉ là để giảm nhẹ những vấn đề gây ra bởi những hành động sai lầm trước đó.

Ông Fukuoka đã cố gắng giải thích những ý tưởng của mình cho các đồng nghiệp và thậm chí là cả những người ông gặp ở trên đường, nhưng đều bị gạt đi, bị coi là kẻ lập dị. Đấy là vào những năm 1930, khi mà khoa học và công nghệ đang trên đà kiến tạo một xã hội thừa mứa và rảnh rang. Và vì thế, ông quyết định bỏ việc và quay trở về nông trại gia đình để áp dụng hiểu biết của mình vào nông nghiệp. Mục đích của ông là tạo nên một ví dụ thể hiện cách nghĩ của ông, và qua đó, cho thế giới thấy giá trị tiềm tàng của nó.

Nông trại bao gồm ruộng lúa rộng khoảng một mẫu Anh, nơi cây lúa được trồng cấy trong ruộng ngập nước, và một khu vườn cam rộng mười mẫu. Nhà thì ở trong làng với một khoảnh sân và một vườn rau hữu cơ nho nhỏ bên ngoài cửa bếp. Ông Fukuoka chuyển ra sống trong một cái chòi nhỏ trên vườn, dành vài năm tiếp theo quan sát tình trạng của đất trồng và ghi chép lại sự tương tác giữa cây cối và động vật sống ở đó. Nhớ lại khoảng thời gian này, ông Fukuoka nói, “Tôi chỉ đơn giản làm cho tâm trí rỗng rang và cố gắng hấp thụ những gì có thể từ tự nhiên”.

Ông Fukuoka muốn tạo dựng một môi trường đem lại lợi ích cho con người – nơi mà tự nhiên được tùy nghi phát triển. Nhưng phải bắt đầu từ đâu? Ông không biết ai từng thử làm việc này trước kia, vì thế không có người nào đi trước để chỉ đường cho ông cả. Ông để ý thấy rằng số cây cối hiện diện trong vườn chỉ giới hạn ở cam quýt và vài loại cây bụi, và dù có một số loài cỏ dại mọc lộn xộn đây đó, đất trơ ra đã bị xói mòn đến tận lớp đất đỏ và cứng ở bên dưới. Trong tình trạng như thế, nếu ông chỉ đơn thuần là không làm gì, tự nhiên sẽ tiếp tục đi theo vòng xoáy đi xuống mà thôi. Bởi vì chính con người đã tạo ra tình trạng phi tự nhiên này, ông cảm thấy mình có trách nhiệm phải sửa chữa sự hư hại đó.

Để đất bớt cứng, ông đã đem vãi hạt giống của những cây rau có rễ ăn sâu, chẳng hạn như cải củ daikon, ngưu bàng, bồ công anh và cây hoa chuông. Để làm sạch và làm giàu cho đất, ông đã trồng thêm những loại cây có bộ rễ chắc, tạo thành thớ, bao gồm cải mù-tạt, củ cải, kiều mạch (tam giác mạch), cỏ linh lăng, cỏ thi và cây cải ngựa. Ông cũng biết rằng mình cần những cây phân xanh cố định đạm, nhưng mà phải dùng loại nào? Ông đã thử ba mươi loài khác nhau trước khi kết luận rằng cỏ ba lá hoa trắng và cây đậu tằm là lý tưởng trong điều kiện của mình. Rễ của cỏ ba lá hoa trắng tạo thành một lớp dệt chừng vài tấc đất trồng phía trên cùng, thế nên chúng rất hiệu quả trong việc kiềm chế cỏ dại. Đậu tằm mọc tốt trong mùa đông, lúc mà cỏ ba lá hoa trắng không dễ mọc cho lắm.

Cần ghi nhớ một điều quan trọng là, khi ông Fukuoka thực hiện những thử nghiệm như thế này, mục đích của ông là để giải những bài toán thực tiễn cụ thể. Ông không làm thí nghiệm chỉ để thỏa chí tò mò hay để tìm hiểu tự nhiên, ông chờ câu trả lời từ tự nhiên cho những vấn đề thiết thực.

Để cải thiện những tầng đất sâu hơn, lúc đầu ông đã cố gắng đem chôn những vật liệu hữu cơ như thân cây và cành nhánh đã phân hủy một phần mà ông nhặt nhạnh được từ những vùng rừng xung quanh. Cuối cùng ông kết luận rằng cách làm này cho quá ít lợi ích so với công sức phải bỏ ra.

Bên cạnh đó, mục đích của ông vốn là tạo ra một hệ thống tự vận hành, mà một khi đã được thiết lập, sẽ tự chăm lo được cho chính nó. Ông quyết định để cho cây cối làm công việc này, thay vì con người phải nai lưng ra làm.

Ông đã trồng những cây keo cố định đạm xen kẽ đây đó giữa những cây cam quýt, cũng như trồng các loại cây lớn và cây bụi khác có rễ đủ cứng đâm xuyên và cải tạo được tầng đất sâu bên dưới. Những cây keo mọc khá nhanh, sau tám hay chín năm ông sẽ hạ chúng xuống và dùng gỗ để làm củi hoặc làm vật liệu cất nhà, để lại bộ rễ cây trong đất tự mục đi theo thời gian. Khi đốn hạ những cái cây đó, ông lại trồng các cây khác ở những vị trí khác, vì thế quá trình tái tạo đất vẫn luôn tiếp diễn.

Cuối cùng thì lớp đất trồng đã sâu hơn và trở nên màu mỡ, còn cơ cấu của khu vườn thành ra giống như của một khu rừng tự nhiên, với những cây cao che tán, những cây ăn trái cỡ vừa, những cây bụi, dây leo và một lớp mọc sát mặt đất gồm cỏ dại, những cây thường xuân, cây thảo dược, cải mù- tạt, kiều mạch và rau. Cỏ ba lá hoa trắng mọc khắp nơi có tác dụng như một lớp cố định phủ đất, giúp cho đất được màu mỡ. Vào thời điểm tôi đến nông trại, có hơn ba mươi loại cây ăn trái và cho hạt cứng ở trong vườn, cũng như đủ loại quả mọng, cùng rau và các cây bản địa ở mỗi tầng tán khác nhau của “vườn rừng”. Cũng có cả gà và ngỗng chạy đó đây, một vài con dê, mấy con thỏ và những tổ ong. Chim chóc, côn trùng và các sinh vật hoang dã khác thì chỗ nào cũng có, còn nấm hương (nấm đông cô) mọc đầy trên những khúc gỗ mục được xếp đống trong bóng râm dưới những tán cây.

Một nguyên tắc mà ông Fukuoka tuân theo khi đi vào các chi tiết kỹ thuật làm nông của mình là tìm cách làm càng ít càng tốt. Không phải vì ông lười biếng, mà bởi vì ông có niềm tin rằng nếu tự nhiên được cho cơ hội, nó sẽ tự làm được mọi chuyện. Như ông đã viết ở trong cuốn Cuộc cách mạng một-cọng-rơm, “Khi phát triển một phương pháp mới người ta thường đặt câu hỏi ‘Làm cái này thì sao?’ hoặc ‘Làm cái kia thì thế nào?’, dẫn tới một loạt những kỹ thuật, cái này chồng chất lên cái kia. Đấy là nông nghiệp hiện đại và kết quả duy nhất của nó là làm cho người nông dân bận rộn hơn.”

“Cách của tôi thì chính xác là điều ngược lại,” ông viết tiếp. “Tôi đang nhắm tới một cách làm nông thoải mái, tự nhiên , kết quả là khiến cho công việc trở nên dễ dàng hơn, thay vì làm nó khó khăn thêm. Không làm cái này thì sao? Không làm cái kia thì sao? – đấy là cách nghĩ của tôi. Cuối cùng, tôi đi đến kết luận là không cần tới cày xới, không cần phải bón phân, cũng không cần ủ phân mùn hay dùng tới thuốc trừ sâu. Khi đi tới tận cùng của nó, chẳng có mấy thao tác thực hành trong nông nghiệp là thực sự cần thiết.”

Tuy nhiên, ban đầu khi ông Fukuoka thừa kế khu vườn, hầu hết các hệ thống tự nhiên đều đã bị tổn hại rất nhiều, nên ông buộc phải tự mình làm những nhiệm vụ mà sau này không còn cần thiết nữa. Chẳng hạn, một khi thiết lập được sự phối hợp bền vững của các loại cây tái tạo đất, ông không cần phải bón phân nữa. Trong những năm đầu chờ cho tới khi thiết lập được sự đa dạng các loại cây và môi trường sống cho côn trùng, ông đã phải trồng những cây hoa cúc để chiết xuất ra nước trừ sâu tự nhiên. Ông dùng nó để kiểm soát rệp vừng và sâu bướm trên rau. Một khi đất đã được cải thiện và cân bằng tự nhiên giữa các loài côn trùng đã được hồi phục thì ngay cả nước trừ sâu kiểu này nữa cũng trở nên thừa. Đến cuối cùng, ông Fukuoka còn phải làm rất ít việc. Ông vãi hạt giống và trải rơm, cắt bớt lớp phủ đất một lần vào mùa hè và để nguyên tại chỗ, thỉnh thoảng thay thế một số cây gỗ và cây bụi, rồi chờ tới mùa thu hoạch.

Một ngày nọ, đi ngang qua ruộng lúa vừa gặt xong, một ý tưởng mới cho việc trồng lúa đã nảy ra trong đầu ông. Cái ông trông thấy là những mầm lúa tự mọc lên giữa đám cỏ dại và rơm rạ. Ông Fukuoka vốn đã thôi việc cày đất trong các ruộng lúa của mình rồi, nhưng kể từ lần đó trở đi, ông ngừng luôn cả việc cho nước chảy vào ngập ruộng. Ông không gieo thóc vào mùa xuân rồi sau đó cấy mạ non vào ruộng chính nữa. Thay vào đó, ông vãi thẳng hạt giống lên mặt ruộng vào mùa thu, là thời điểm mà trong tự nhiên chúng tự rơi xuống đất. Và thay vì cày đất để loại bỏ cỏ dại, ông học cách kiểm soát chúng bằng cách rải rơm và trồng cố định một lớp phủ đất bằng cỏ ba lá hoa trắng. Rốt cuộc, cũng giống với vườn cây ăn trái, cách trồng lúa của ông Fukuoka đã loại bỏ đi hết, chỉ còn giữ lại những công đoạn đơn giản nhất – gieo hạt, rải rơm, và thu hoạch. Các công đoạn khác thì ông để cho tự nhiên làm tất.

Khi ông Fukuoka quay trở về nông trại của gia đình và bắt đầu thực hành nông nghiệp tự nhiên, ông muốn chứng minh cách suy nghĩ của mình có thể giúp ích cho đời. Sau hai mươi lăm năm, sản lượng của những cánh đồng lúa không giữ cho ngập nước của ông Fukuoka đã bằng hoặc vượt các nông trại hàng đầu về năng suất của Nhật Bản. Ông cũng trồng một vụ lúa mạch vào mùa đông trên cùng những cánh đồng trồng lúa gạo, và gửi bán gần chín mươi tấn quýt mỗi năm, chủ yếu là tới Tokyo, nơi mà nhiều người trước đó chưa từng được nếm thực phẩm trồng tự nhiên.

Không sử dụng đến bất kỳ sản phẩm nào của công nghệ hiện đại mà vẫn cho sản lượng cao, làm nông tự nhiên còn không gây ô nhiễm, và mỗi năm qua đi đất trồng lại tốt lên.

Nếu như ông Fukuoka có thể thu được sản lượng tương đương với các nông dân khác ở Nhật, trong khi họ sử dụng hết thảy các công cụ khoa học công nghệ mới nhất, gây ô nhiễm, trồng ra những cái cây ốm yếu, và phá hoại đất trồng, vậy thử hỏi đâu là lợi ích của những hiểu biết và công nghệ mà con người tạo ra đây? Chỉ sau có hai mươi lăm năm, ông đã chứng minh được luận điểm của mình.

Khu vườn cây trái của ông không sử dụng bất cứ tiện ích hiện đại nào. Nước uống được mang về từ suối, đồ ăn được nấu trên bếp củi, còn ánh sáng thì lấy từ nến và đèn dầu. Ông Fukuoka cấp cho các nhân công học việc của mình ba mươi lăm đô-la mỗi tháng để chi dùng cho cuộc sống. Hầu hết số tiền đó được dùng để mua nước tương và dầu ăn, là những thứ mà sản xuất ở quy mô nhỏ thì không bõ công. Với những nhu cầu còn lại, học viên đều dựa vào lượng thực phẩm trồng được trên đồng ruộng và ở trong vườn, các sản vật kiếm được tại chỗ, và dựa vào sự khéo léo của chính họ.

Ông Fukuoka cố tình để cho các học viên sống theo lối bán khai như thế này, bởi ông tin nó sẽ giúp đem đến cho họ sự nhạy cảm cần thiết khi làm nông theo phương thức tự nhiên của ông. Ông không trả công cho các học viên làm việc ở đó, nhưng chẳng ai phản đối. Họ cảm thấy việc sống trong cảnh điền viên như thế và nhận lãnh sự chỉ giáo của ông Fukuoka – bản thân nó miễn phí và hào phóng – là giá trị nhiều hơn số tiền công rồi. Kể từ hồi tôi sống ở nông trại đó tính tới nay đã được ba mươi lăm năm. Mọi công việc sau này tôi thực hiện để thúc đẩy việc làm nông tự nhiên đều là để đáp đền ông Fukuoka, cho những gì tôi đã học được từ ông.

Lúc tôi ở đó, chúng tôi có khoảng năm hay sáu người sống trong nhiều năm liên tục tại trang trại. Những người khác thì đến và ở lại chỉ một vài tuần hay vài tháng rồi lại xuống núi. Tình bằng hữu ở đó thật là tuyệt vời. Chúng tôi tụ họp cùng nhau mỗi sáng và lên kế hoạch làm việc trong ngày. Anh Hi-de đã ở đó lâu nhất và có hiểu biết sâu sắc nhất về công việc ở nông trại, vì thế được mọi người mặc định coi là trưởng nhóm. Các công việc nhà nông như tỉa thưa cây ăn trái, cắt thấp lớp cỏ phủ vườn và thu hoạch, có thể kéo dài vài tuần hoặc vài tháng. Công việc thường ngày bao gồm gánh nước, nấu nướng, chăm nom vật nuôi và tổ ong, đi nhặt củi và chặt củi, làm mi-sô (tương đậu nành lên men) và đậu hũ (sữa đông của đậu nành), và chuẩn bị nước nóng để tắm. Thi thoảng các căn chòi cũng cần phải được sửa chữa hoặc thay thế nữa.

Ông Fukuoka thường làm cùng với chúng tôi, chỉ dẫn các kỹ thuật và thao tác cụ thể, như cách vo những viên đất chứa hạt giống, trồng rau theo lối bán hoang, cách sử dụng đúng và chăm chút cho nông cụ. Ông khá là thân thiện và kiên nhẫn, nhưng sự kiên nhẫn của ông tắt rất nhanh khi phải trông thấy những thứ mà ông cho là làm không tới nơi tới chốn. Ông Fukuoka thật không biết mỏi mệt. Ngay cả khi đã sáu mươi lăm tuổi, ông vẫn leo lên leo xuống các sườn đồi của vườn cây trái như một con sơn dương. Tất cả chúng tôi đều chẳng theo kịp.

Thỉnh thoảng, thường là chủ nhật hoặc những khi mưa nặng hạt, ông Fukuoka tập hợp chúng tôi lại để thảo luận các triết lý của ông. Những buổi như thế đối với tôi thật khó nhằn. Mặc dù có thể nói tiếng Nhật lưu loát, nhưng tôi chỉ thạo thứ ngôn ngữ sử dụng hằng ngày. Cách diễn đạt mang tính triết học và tâm linh mà ông dùng trong các buổi thảo luận thì tôi không tài nào hiểu nổi. Ông Fukuoka còn luôn miệng bảo chúng tôi rằng triết lý là tất cả, còn làm nông thì chỉ là sự minh họa cho triết lý ấy thôi. Ông nói, “Nếu các cậu không hiểu triết lý thì tất cả những thứ khác sẽ trở thành những hành động vô nghĩa”. Vậy nên mỗi ngày tôi phải cố gắng hết sức, và tự nhủ rằng tới một lúc nào đó mình sẽ lĩnh hội được.

Một buổi chiều, trong lúc chúng tôi đang tuốt lúa trên sân nhà ông ở trong làng, ông Fukuoka xuất hiện từ nhà đi ra, khuôn mặt rạng rỡ. Ông đang cầm trên tay cuốn Cuộc cách mạng một-cọng-rơm phiên bản tiếng Nhật do nhà xuất bản gửi tới. Ông Fukuoka vốn đã viết nhiều sách, nhưng buộc phải tự xuất bản vì không thể tìm được một nhà xuất bản sẵn lòng đặt cược vào những ý tưởng quá khác lạ so với tư tưởng chính thống như thế. Và rồi cuộc khủng hoảng dầu mỏ đầu tiên diễn ra vào đầu những năm 1970. Nhật Bản, một nước công nghiệp hầu như không có nguồn nhiên liệu nội địa nào, bị ảnh hưởng trầm trọng. Đột nhiên nhà nhà đều chuyển sang tìm kiếm các phương thức thay thế cho nền sản xuất dựa trên xăng dầu. Cuối cùng thì một nhà xuất bản liên hệ với ông Fukuoka và yêu cầu ông viết một cuốn sách giới thiệu về phương pháp làm nông tự nhiên của ông và về việc làm thế nào mà ông lại đi đến cách làm nông đó. Ông đã viết quyển sách ấy trong vòng có ba tháng.

Sau khi đã đọc cuốn sách, các học viên khác và tôi quyết định rằng bọn tôi sẽ dịch nó ra tiếng Anh và cố gắng xuất bản nó ở nước Mỹ. Triết lý và các kỹ thuật của ông Fukuoka đơn giản là quá quan trọng để bị mai một đi ở nước Nhật, nơi mà tương đối ít người biết đến công việc của ông. Tôi đã nghiên cứu khoa đất trồng và dinh dưỡng cây trồng tại Đại học California ở Berkeley, và biết về rất nhiều vấn đề gây ra bởi việc cày xới đất. Có nhiều nông dân và nhà nghiên cứu, thậm chí thuộc trường phái nông nghiệp chính thống, cũng đang cố gắng phát triển một hệ thống không cày xới cho việc trồng hạt cốc và các cây trồng khác, nhờ đó sẽ tránh được các vấn đề như sử dụng quá nhiều năng lượng, gây ra xói mòn đất và cạn kiệt vật chất hữu cơ trong đất; nhưng không ai tìm được cách để làm chuyện đó thành công, ít nhất là thoát khỏi việc không làm cho ruộng đồng ngập trong thuốc diệt cỏ. Thế nên, ngoài sức lôi cuốn nội tại trong triết lý của ông Fukuoka, tôi còn biết rằng câu chuyện hai mươi lăm năm thu hoạch sản lượng cao, không dùng tới hóa chất và không cày xới của ông sẽ được chào đón trong giới nông nghiệp.

Không ai trong chúng tôi có kinh nghiệm trong việc viết lách, biên tập hay dịch thuật gì cả, nhưng chúng tôi đã không để cho điều đó làm mình nhụt chí. Hồi đó chưa có máy vi tính cá nhân hay phần mềm xử lý văn bản, thế nên việc đầu tiên cần làm là sửa lại chiếc máy đánh chữ cũ kỹ đang để lăn lóc trong một căn chòi. Nó không có ruy băng, các phím chữ d và e bị mất, con trượt thì hay có kiểu bị kẹt khi quay trở về đầu hàng rất bực mình. Tôi đáp tàu đi thành phố Matsuyama nhiều lần để sửa nó cho xong, tiện thể tới thăm lâu đài Matsuyama và ghé qua tắm ở các suối nước nóng công cộng trên đường đi.

Chris Pearce là một người bạn tôi đã gặp được trong khoảng thời gian sống ở các công xã nông thôn. Anh ấy lớn lên ở Nhật Bản và có thể nói trôi chảy cả hai thứ tiếng Nhật và Anh. Anh ấy đưa cho chúng tôi bản dịch đầu tiên. Nhưng Chris chưa bao giờ tới nông trại của ông Fukuoka, anh cũng không có kinh nghiệm làm nông, vì thế một số đoạn của bản thảo có vẻ tối nghĩa hay rất khó hiểu.

Trong số các học viên khác sống ở nông trại vào thời điểm đó có anh Kurosawa mới quay về sau một năm đi thăm các nông trại hữu cơ ở Mỹ. Ba hay bốn lần mỗi tuần, sau khi làm lụng cả ngày, hai chúng tôi ngồi cùng ông Fukuoka chỉnh sửa những đoạn bản thảo tối nghĩa và khó hiểu. Cuối cùng, khi có được một bản thảo mà chúng tôi thấy là ổn rồi, tôi được tin tưởng phái đi Mỹ để tìm nhà xuất bản. Đấy là vào năm 1976.

Tôi tìm cách gửi được bản thảo tới tay Wendell Berry, người đang sống và làm nông ở Kentucky. Dù bản dịch nháp còn khá thô và chưa chuyên nghiệp, nhưng ông Berry thấy thích nội dung của nó và nhận làm công việc hỗ trợ xuất bản. Ông khuyên chúng tôi dùng dịch vụ của Rodale Press, một phần là vì ông không muốn cuốn sách và triết lý của ông Fukuoka bị xem như một tác phẩm thuộc dòng “new age” . Ông muốn đảm bảo rằng cuốn sách sẽ đến được tay của những nông dân thực thụ, bởi ông nghĩ thông điệp của nó sẽ có ích lợi cho họ và có khả năng giúp đảo ngược cách làm nông phi tự nhiên của nền nông nghiệp thời hiện đại. Rodale Press là đơn vị xuất bản tạp chí Organic Gardening (Làm vườn hữu cơ), vào thời gian đó có số ấn bản lưu hành trên một triệu bản, và sở hữu một câu lạc bộ sách vươn tới được hàng chục ngàn nông dân ở miền Trung nước Mỹ.

Trong chừng một năm tiếp sau đó, ông Berry và tôi cùng làm công việc sửa cho bản thảo trôi chảy hơn và làm rõ những đoạn có thể sẽ khó hiểu đối với người Mỹ. Cuốn sách được xuất bản trong năm 1978 và thành công ngay lập tức. Kể từ đó, Cuộc cách mạng một-cọng-rơm đã được dịch sang hơn hai mươi lăm thứ tiếng (chẳng ai biết chính xác là bao nhiêu), tất cả đều dịch từ bản tiếng Anh của chúng tôi.

Việc xuất bản cuốn Cuộc cách mạng một-cọng-rơm tạo nên một lằn ranh trong cuộc đời ông Fukuoka. Ba mươi năm trước đó, ông làm lụng trong ngôi làng nhỏ của mình, gần như là không ai biết tới. Sau khi cuốn sách được xuất bản, ông trở nên nổi tiếng và được kính trọng trên toàn thế giới, và bắt đầu nhận được lời mời đi thăm từ những người ủng hộ ở khắp mọi nơi.

Lời mời đầu tiên là vào năm 1979, từ Herman và Cornelia Aihara, hai người đó tài trợ cho một trại hè thực dưỡng ở French Meadows, Sierra Nevada. Đấy là lần đầu tiên ông Fukuoka và Ayako, vợ ông, đi ra khỏi nước Nhật, cũng là lần đầu tiên hai người đi máy bay. Trong sáu tuần tiếp sau đó, ông đi khắp các bang California, New York và Massachusetts. Bảy năm sau, ông quay trở lại nước Mỹ cho chuyến đi sáu tuần nữa, lần này có ghé thăm bang Oregon và bang Washington. Trong vòng ba mươi năm cuối cuộc đời mình, ông còn tới thăm Ấn Độ (năm lần), Thái Lan (nhiều lần), Philippines, châu Phi (bao gồm Somalia, Ethiopia và Tanzania), châu Âu (hai lần) – trong đó có một chuyến đi đáng nhớ tới Hy Lạp, và Trung Quốc.

Khi lần đầu tiên trông thấy tình trạng đất đai ở California, ông đã sốc vì độ cằn cỗi của nó. Ông để ý thấy rằng, một phần tình trạng đó là do khí hậu, khi không có được lượng mưa mùa hè như ở Nhật Bản, nhưng hầu hết có nguyên nhân từ cách thực hành nông nghiệp bất cẩn, quản lý nước yếu kém, chăn thả quá độ, khai thác gỗ quá mức. Cuối cùng, ông gọi đó là “thảm họa sinh thái của California”. Sau khi thăm Ấn Độ và châu Phi, ông biết được mức độ nghiêm trọng của cuộc khủng hoảng sinh thái trên phạm vi toàn thế giới là như thế nào. Kể từ đó trở đi, ông dành hết mọi năng lượng của mình sử dụng cách làm nông tự nhiên để tháo gỡ vấn đề sa mạc hóa.

Ông Fukuoka tin rằng hầu hết các sa mạc trên thế giới được tạo ra do hoạt động của con người. Những hành động kém hiểu biết này đều dựa trên sự hiểu biết không đầy đủ của loài người. Ông cảm thấy rằng các sa mạc có thể được phủ cây trở lại bằng việc gieo hạt giống trên diện rộng, phát tán càng nhiều loài cây và vi sinh vật cùng với nhau càng tốt. Do các điều kiện đã bị biến đổi quá trầm trọng, việc cố đưa mọi thứ trở về y như trạng thái ban đầu sẽ không thể làm được nữa. Bằng việc cung cấp nhiều loại hạt giống cây và vi sinh vật khác nhau, tự nhiên sẽ có thể tái tạo theo con đường phù hợp nhất với các điều kiện thổ nhưỡng hiện tại. Ông gọi đây là lần Sáng Thế thứ hai. Điều quan trọng nhất là định kiến của con người phải được loại bỏ khỏi tiến trình đưa ra quyết định. Ông tin rằng để phủ cây trên sa mạc, con người cần chấm dứt việc cách ly kiểm dịch thực vật và bắt tay xây dựng những ngân hàng hạt giống quy mô lớn.

Kế hoạch chặn đứng sa mạc hóa của ông Fukuoka và tư tưởng của ông về những thứ như kinh tế, chính trị, chế độ ăn, giáo dục chính thống, nghệ thuật, chăm sóc sức khỏe và khoa học – tất cả những điều được bàn luận trong cuốn sách này – đều xuất phát trực tiếp từ triết lý cốt lõi của ông, cái đã đến với ông một cách bất ngờ ở Yokohama vào buổi sáng hôm đó, lúc ông mới 25 tuổi. Ông đã thấy được tự nhiên như là một thực tại đơn nhất, liền mạch, không hề có các đặc tính thường tại. Ông thấy thời gian như một khoảnh khắc liên tục của hiện tại, bao gồm cả quá khứ và tương lai.

Trong nỗ lực vô ích để hiểu tự nhiên và thiết lập một khung tham chiếu, người ta áp lên tự nhiên những khái niệm như bắc và nam, trên và dưới, tốt và xấu, phân loại tạo vật như các thực thể khác biệt, và chế ra một thứ “thời gian của con người” không dựa trên cái họ trải nghiệm mà dựa trên đồng hồ và lịch. Làm như thế, con người tạo ra một thế giới của các ý niệm rồi sống luôn trong đó, vì vậy ngăn cách bản thân ra khỏi tự nhiên. Trong thế giới khởi thủy tuyệt đối, theo như ông Fukuoka, các khái niệm và cách đánh giá của con người là không hề hiện hữu.

Trong nhiều năm trời, điểm cốt lõi trong thế giới quan của ông Fukuoka vẫn thật khó hiểu đối với tôi, nhưng tới một ngày, tất cả đã trở nên rõ ràng. Khi ấy tôi đang đi bộ trong rừng cây gỗ đỏ ở bờ bắc bang California. Lúc ngồi xuống nghỉ cạnh một con lạch nhỏ, tôi nhìn lên và thấy cái gì đó chưa từng bao giờ nhìn thấy trước kia… sự yên bình và vẻ đẹp của chính bản thân tự nhiên. Vì một lý do nào đó, tôi không còn bị chia cắt khỏi tự nhiên bởi bộ lọc được làm từ ý niệm của riêng tôi nữa. Thay vì nhìn vào tự nhiên, giờ tôi ở trong nó. Tự nhiên chẳng hề thay đổi, nhưng nhận thức của tôi đã khác đi. Tôi không đừng được mà cười phá lên. Suốt bấy lâu tôi gian nan vật lộn với triết lý của ông Fukuoka, trong khi cái mà ông nói tới đó thực tế ra lại quá đơn giản và vẫn luôn ở ngay trước mắt tôi.

Khi tôi đi cùng với ông Fukuoka trong các chuyến đi tới nước Mỹ, người ta thường hỏi ông liệu có thể phối hợp cách làm nông tự nhiên với cách làm chính thống hoặc hữu cơ hay không. Ông cương quyết bảo rằng ta không thể làm thế. Và giờ, cuối cùng thì tôi cũng hiểu được vì sao. Người ta hoặc là sống trong thế giới tuyệt đối của tự nhiên, hoặc là trong thế giới được làm bằng ý niệm của con người. Chẳng hề có thế giới nào là nửa nọ nửa kia cả.

Với thế giới quan của ông Fukuoka như thế, chẳng có gì ngạc nhiên khi cách làm nông tự nhiên của ông và kế hoạch mà ông cổ vũ nhằm phủ cây cho các sa mạc trên thế giới lại có vẻ đi ngược lại kiến thức chính thống và cách suy nghĩ khoa học hiện nay đến vậy. Đấy là một kế sách thực sự có tầm nhìn và sáng tạo mà ông tin rằng sẽ trả loài người về mối quan hệ đúng đắn với tự nhiên và chữa lành sự hoang mang đau khổ trong trái tim con người. Mục tiêu của ông không gì khác hơn là tái tạo vườn Địa đàng, nơi người ta sống cùng nhau trong thịnh vượng, tự do và an bình.

Larry Korn Ashland, bang Oregon, 2012.
Trích Lời Giới Thiệu

MỤC LỤC

Lời Giới Thiệu
Ghi Chú Của Người Biên Tập (Bản Tiếng Anh)
Về Hình Minh Họa
CHƯƠNG MỘT: TIẾNG GỌI ĐẾN VỚI NÔNG NGHIỆP TỰ NHIÊN
Tôi trở về với việc làm nông
Những thử thách thời chiến tranh loạn lạc
Ý nghĩa thực sự của Tự Nhiên
Những sai lầm của tư tưởng loài người
Sẽ không có Chúa hay Phật nào ra tay cứu lấy loài người
Cánh chuồn sẽ là Đấng cứu thế
Cuộc sống thuận tự nhiên

CHƯƠNG HAI: XÉT LẠI TRI THỨC CỦA CON NGƯỜI
Sự khởi sinh của tri thức phân biệt
Thuyết chọn lọc tự nhiên của Darwin
Hiểu về thời gian và không gian chân thực
Gien trội và gien lặn
Một cách nhìn khác về tiến hóa.
Những giống lai xuất hiện một cách tự nhiên trong ruộng lúa của tôi
Từ bỏ những gì chúng ta nghĩ là mình biết

CHƯƠNG BA: CHỮA LÀNH CHO MỘT THẾ GIỚI TRONG CƠN KHỦNG HOẢNG
Hồi phục lại trái đất và con người của nó
Trong tự nhiên, không có những con côn trùng có ích hay gây hại
Đông y và Tây y
Nỗi sợ chết
Câu hỏi về linh hồn
Nền kinh tế bạch tuộc hút tiền
Ảo tưởng về luật nhân quả
Cách tiếp cận hiện tại của các phương thức đối phó với sự sa mạc hóa

CHƯƠNG BỐN: SỰ SA MẠC HÓA TOÀN CẦU
Những bài học từ các cảnh quan ở châu Âu và Hoa Kỳ
Bi kịch của châu Phi
Gieo những hạt giống trong một trại tị nạn ở châu Phi

CHƯƠNG NĂM: TÁI PHỦ CÂY CHO TRÁI ĐẤT THÔNG QUA NHỮNG PHƯƠNG PHÁP TỰ NHIÊN
“Sản xuất” nông nghiệp thực chất ra là tiêu xuất
Trại chăn nuôi thương mại sẽ tàn phá đất đai, tôm cá nuôi lồng thì phá biển
Gieo những hạt mầm trên sa mạc
Tạo nên những vành đai xanh
Tái phủ cây cho đất nước Ấn Độ
Những ghi chép từ một hội nghị thượng đỉnh quốc tế về môi trường

CHƯƠNG SÁU: NHỮNG CHUYẾN DU HÀNH TRÊN BỜ TÂY NƯỚC MỸ
Các khu chợ nông dân
Các nông trại tự nhiên ở thành thị
Người gieo và Chim muông gieo
Trồng lúa ở thung lũng Sacramento
Từ làm nông hữu cơ tới làm nông tự nhiên
Hai hội nghị quốc tế
Những cây tuyết tùng Nhật Bản ở Trung tâm Thiền

PHỤ LỤC A: TẠO LẬP MỘT TRANG TRẠI TỰ NHIÊN Ở CÁC VÙNG ÔN ĐỚI VÀ CẬN NHIỆT ĐỚI
Những cánh rừng phòng hộ tự nhiên
Gây rừng phòng hộ
Cây chắn gió
Tạo lập vườn cây ăn trái
Tạo các “cánh đồng” ở trong vườn cây ăn trái
Tạo lập một cánh đồng truyền thống
Tạo lập những cánh đồng lúa

PHỤ LỤC B: LÀM CÁC VIÊN ĐẤT CHỨA HẠT GIỐNG DÙNG ĐỂ TÁI LẬP THẢM THỰC VẬT
Mục đích Vật liệu
Phương pháp gieo hạt từ trên không
Phương pháp sản xuất viên đất
Các đặc tính của viên đất

PHỤ LỤC C: SẢN XUẤT MÔI TRƯỜNG NUÔI CẤY TỰ NHIÊN TOÀN DIỆN

Tải về: Gieo mầm trên sa mạc (PDF)

Bên dịch: XanhShop
Tìm mua trên Tiki: Gieo mầm trên sa mạc
Phiên bản tiếng anh tại Amazon: Sowing Seeds in the Desert

Xem thêm tác phẩm cùng tác giả: Cuộc cách mạng một cọng rơm

Recommended1 recommendationPublished in Canh tác hữu cơ, Canh tác thuận tự nhiên, Sách vở nông nghiệp

Related Articles

Cuộc cách mạng một cọng rơm

Có thể gọi ông Masanobu Fukuoka, tác giả cuốn sách, là người nông dân vĩ đại nhất hành tinh cũng không có gì là lạm dụng từ ngữ. Ông là người đạt đến cảnh giới vô vi trong nông nghiệp và là vị sư tổ của nông nghiệp tự nhiên.

Những bài học từ thiên nhiên – Hướng dẫn về nông nghiệp sinh thái vùng nhiệt đới

Tôi có hai mục đích khi định viết cuốn sách này. Một là viết một cuốn sách đơn giản để giải thích các ý cơ bản về thiên nhiên nhằm giúp cho mọi người hiểu thế nào là nông nghiệp theo quan điểm của tự nhiên. Hai là chia sẻ kinh nghiệm của tôi trong thực hành nông nghiệp sinh thái ở vùng nhiệt đới.

Quản lý dịch bệnh & cỏ dại

Sự bùng phát của dịch bệnh và côn trùng gây hại ngày nay đang trở thành một vấn đề nghiêm trọng trong nông nghiệp. Mặc dù nông dân đã sử dụng thuốc hóa học để khống chế sâu bệnh, vấn đề vẫn chưa được giải quyết, thậm chí đi vào vòng luẩn quẩn. Tại sao lại xảy ra tình trạng này ?

Responses